Trần Đăng Khoa-thần đồng thi ca Việt Nam

 

I.Đôi nét về tác giả.

1.Tiểu sử nhà thơ Trần Đăng Khoa

Nhà thơ Trần Đăng Khoa là tên tuổi hàng đầu của nền văn học Việt Nam đương đại, nổi tiếng thần đồng thơ từ thuở bé. Ông sinh ngày 26 tháng 4 năm 1958, quê quán thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương nay thuộc thành phố Hải Phòng. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1977.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du khóa I, Học viện Văn học thế giới mang tên Maxim Gorky – CHLB Nga. Ông từng là lính hải quân ở Trường Sa, học viên sĩ quan lục quân, được thăng quân hàm Thượng tá, Biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá VII, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa IX, X, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà văn & Cuộc sống từ năm 2020 – 2025.

Vốn nổi tiếng là thần đồng thơ từ khi mới 7,8 tuổi, tập thơ Từ góc sân nhà em của Trần Đăng Khoa in ở Nxb Kim Đồng lúc vừa tròn 10 tuổi và đến nay tái bản rất nhiều lần. Thơ ông được dịch sang nhiều thứ tiếng nước ngoài và ông cũng là nhà thơ đại diện Việt Nam trên nhiều diễn đàn, liên hoan thơ quốc tế

Ngoài thơ Trần Đăng Khoa còn viết phê bình văn học, văn xuôi và là cây bút uy tín xuất hiện thường xuyên trên báo chí. Những bài bình luận thời sự của ông được dư luận rất chú ý. Đồng thời, Trần Đăng Khoa cũng là người hoạt ngôn, có tài hùng biện, thường xuyên đi nói chuyện, giao lưu về thi ca và văn học.

Về tác giả Trần Đăng Khoa:https://youtu.be/jXeZvN0TCCI?si=bz0YEY40apfKcD0q

Tác phẩm đã xuất bản:

Thơ:

1. Từ góc sân nhà em, 1968.

2. Góc sân và khoảng trời, 1973… tái bản lần thứ 99 năm 2009.

3. Thơ Trần Đăng Khoa, 1970.

4. Khúc hát người anh hùng, 1974.

5. Trừng phạt, 1973.

6. Giông bão, 1983.

7. Bên cửa sổ máy bay, 1986; tái bản, bổ sung 2009.

8. Thơ Trần Đăng Khoa, 1983.

9. Người thường gặp, 2000.

10. Đảo chìm, 2009.

Thể loại khác:

1. Chân dung và đối thoại, 1998.

Nhiều tập khác được dịch in ở nước ngoài.

Giải thưởng văn học:

– Ba lần giải nhất thơ báo Thiếu niên Tiền phong (1968, 1969, 1971);

– Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1981-1982).

– Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001


2. Sự nghiệp sáng tác của Trần Đăng Khoa

Tác giả Trần Đăng Khoa không chỉ là một nhà thơ nổi bật của Việt Nam, mà còn là một trong những tác giả tiêu biểu đương đại trước năm 1975. Với nét riêng độc đáo, ông đã góp phần làm cho văn chương Việt Nam thêm phong phú và đa dạng hơn. Những tác phẩm của Trần Đăng Khoa thường mang đến cái nhìn bao quát về cuộc sống và tình huống xã hội. Từ những chất liệu đơn giản như những cánh hoa, những chiếc lá hay những bông trà, ông đã tạo nên những tác phẩm thơ đầy tinh tế, sắc sảo và đầy cảm xúc. Những sự vật quen thuộc xung quanh đời sống hàng ngày, được ông dệt lại thành những câu thơ đầy ý nghĩa, thể hiện một cách rõ nét tâm trạng của con người đương đại. Vì vậy, công lao của Trần Đăng Khoa trong sự nghiệp văn chương đã được công nhận và đánh giá cao. Tác phẩm của ông đã góp phần làm cho văn chương Việt Nam trở nên đa dạng và phong phú hơn, và vẫn được đọc và trân trọng cho đến ngày nay. Trong suốt hơn năm thập kỷ sáng tác, Trần Đăng Khoa đã tạo nên hơn 20 tập thơ và trường ca đầy sức sống như Bên cửa sổ máy bay, Khúc hát người anh hùng, Chân dung và đối thoại, bên cạnh đó còn có một số tập bút ký và tiểu luận phê bình. Tuy nhiên, đáng chú ý nhất vẫn là các tập thơ từ khi còn bé như Từ góc sân nhà em và Góc sân và khoảng trời. Với nét riêng đặc trưng của ngòi bút, ông đã ghi dấu ấn trong tâm trí độc giả bằng những ký ức về tuổi thơ đầy hồn nhiên, nhẹ nhàng, đầy chân thật nhưng cũng sâu sắc với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Ngay từ khi mới 10 tuổi, Trần Đăng Khoa đã có những câu thơ đầy cảm xúc chạm đến trái tim của độc giả. Những hạt gạo, những giọt mồ hôi của người nông dân, qua lăng kính của một cậu bé, hiện lên như một bức tranh đầy màu sắc. Tác phẩm Hạt gạo làng ta còn chứa đựng cả hình ảnh tần tảo của người phụ nữ nơi hậu phương. Bao nhiêu hạt gạo là bấy nhiêu chân tình cùng với những nỗi nhớ nhung khắc khoải của quê hương dành cho tiền tuyến.

3. Phong cách của Trần Đăng Khoa

Tác giả Trần Đăng Khoa luôn khắc họa quê hương và thiên nhiên trong từng tác phẩm của mình như một biểu tượng nghệ thuật giàu sức sống, được thể hiện qua cảm xúc của một con người đã trải qua bao kỷ niệm với mảnh đất quê hương của mình. Thơ của ông không chỉ tươi trẻ và trong sáng mà còn sắc sảo, giống như những bài đồng dao với cách viết chữ uyển chuyển và lôi cuốn. Trong những tác phẩm của ông, âm nhạc không chỉ là giai điệu của tâm hồn mà còn có khả năng tạo hình và tạo nghĩa rất tinh tế. Từ khi còn là một cậu bé 10 tuổi, Trần Đăng Khoa đã thể hiện được tài năng thi ca của mình với những bài thơ giàu năng lượng và chất nhạc. Thành công của ông trong việc chơi chữ và tạo nên những bài thơ uyển chuyển đã đem lại danh xưng “Thần đồng” cho ông. Ngoài ra, ông cũng rất linh hoạt trong việc sử dụng các phép nghệ thuật khác nhau như nhân hóa, ẩn dụ và từ láy, giúp tạo ra những tác phẩm thơ không chỉ hài hước và phong phú mà còn sâu sắc và tinh tế.



*Một số nhận xét, đánh giá:

 Nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Đăng Mạnh: “Trần Đăng Khoa luôn cảm nhận đựơc vẻđẹp trong trẻo, trinh nguyên, thuần nhất của vùng quê dân dã”

– Dương Thu Hương: ” Trần Đăng Khoa đã bộc lộ một tình yêu quê hương sâu sắc và truyền cho người đọc tình yêu ấy. Với tất cả bạn đọc nước ngoài, qua thơ anh, họ cũng hiểu thêm phần nào về phong vị Việt Nam”

 Phạm Hổ trong tiểu luận “Đọc lại thơ Trần Đăng Khoa” cho rằng: “Trần Đăng Khoa đã không viết về những cái gì xa lạ mà viết những cái ở ngay làng quê mà ngày ngày em trông thấy và hầu như toàn bộ thơ Trần Đăng Khoa là viết bằng lòng yêu thương…”

 Trần Đăng Xuyền: “Thơ Trần Đăng Khoa chạm đến bản chất, cái cốt lõi của làng quê”

– Phạm Hổ đã viết về Trần Đăng Khoa: “thơ Trần Đăng Khoa viết lúc còn bé đã chịu sự thử thách khá dài trên dưới 30 năm với bao nhiêu những đổi thay trong cuộc sống không thể lường trước… Đến nay, đọc lại thơ Trần Đăng Khoa, tôi vẫn thấy hay, có bài còn hay hơn”

II. Một số tập thơ nổi bật

1.Góc sân và khoảng trời (1968)


Góc sân và khoảng trời là tập thơ nổi tiếng của "thần đồng thơ ca" Trần Đăng Khoa, được xuất bản lần đầu tiên năm 1968 khi tác giả mới 10 tuổi. Tập thơ mới đầu có tên là Từ góc sân nhà em, sau nhiều lần tái bản và chỉnh sửa, nay tập thơ tên là Góc sân và khoảng trời. Tập thơ như là những trang ký ức, nhật ký của tác giả thời thơ ấu.

Tập thơ gồm có 107 bài thơ và Trường ca đánh Thần Hạn có 4 chương.


Một số bài thơ nổi tiếng trong tập thơ này :


Ảnh Bác

Con bướm vàng

Trăng sáng sân nhà em

Ò Ó O...

Khi mẹ vắng nhà

Trăng ơi... Từ đâu đến?

Kể cho bé nghe

Hạt gạo làng ta

Lời của than

Thơ vui

Mưa

Cây dừa

Sắp mưa

Những con mối

Mẹ ốm 

Bài thơ: Hạt gạo làng ta

Bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa viết năm 1969 khi nhà thơ còn là một cậu bé 11 tuổi. Thế nhưng bài thơ lại có tầm suy nghĩ của người lớn: chín chắn, chững chạc.

Tứ thơ của bài thơ được phát triển bắt đầu từ ý khái quát: hạt gạo được kết tinh từ những hương vị ngọt ngào của quê hương. Đó là hương đồng gió nội, là bài ca lao động, là lời ru của mẹ, là vị phù sa màu mỡ của đất đai quê nhà.Hạt gạo không chỉ là sản phẩm vật chất mà còn là sản phẩm tinh thần vô giá:


Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay


Các khổ 2 và 3 của bài thơ tập trung thể hiện những “đắng cay”mới có được hạt gạo dẻo thơm. Vị đắng cay mà Trần Đăng Khoa muốn nói đến là nỗi vất vả trong khắc phục thiên tai để sản xuất của người nông dân. Những bão lụt, hạn hán dồn dập… Điệp từ “có” kết hợp với số từ “bảy”, “ba”, “sáu”, nhà thơ đã thể hiện được sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên:


Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy


Bài thơ ca ngợi ý chí vượt khó của mẹ, của bà con nông dân trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên.

Những năm 60, 70, giặc Mĩ leo thang bắn phá miền Bắc. Chúng hòng phá hoại những thành quả xây dựng ta, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Những trai làng phải lên đường đánh giặc:


Những năm bom Mĩ

Trút lên mái nhà

Những năm khẩu súng

Theo người đi xa


Ở quê nhà là các bà, các chị. Họ vừa phải sản xuất vừa phải chiến đấu để bảo vệ thành quả lao động của mình, bảo vệ quê hương bình yên với đồng lúa thẳng cánh cò bay.Hình ảnh các cô gái súng quàng vai, lưng đeo băng đạn cả khi cày khi cấy trở thành một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam. Đó là sự kết hợp đẹp giữa chiến đấu và sản xuất:


Những năm băng đạn

Vàng như lúa đồng

Bát cơm mùa gặt


Những năm tháng gian khổ ấy, các em thiếu nhi cũng muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình

vào công

cuộc xây dựng đất nước:


Hạt gạo làng ta

Có công các bạn

Sớm nào chống hạn

Vục mẻ miệng gàu

Trưa nào bắt sâu

Lúa cao rát mặt

Chiều nào gánh phân

Quang trành quết đất


Các em tham gia một cách tự giác, chăm chỉ. Sự chăm chỉ ấy được bài thơ thể qua các từ: sớm, trưa, chiều. Sự đối lập giữa sức vóc bé nhỏ với công việc người lớn mà các em tham gia được tác giả khắc họa một cách khá ngộ nghĩnh và xúc động.


Khổ cuối, tác giả nâng giá trị của hạt gạo thành “Hạt vàng làng ta”. Hạt gạo quý như hạt vàng. Điệp khúc “Hạt gạo làng ta” ở mỗi khổ thơ thể hiện được sự trân trọng tự hào của nhà thơ đối với quê hương. Ta có thể nhận ra những “hạt vàng” lấp lánh trong bài thơ.


Bài thơ đã được phổ nhạc:https://youtu.be/tM9W_DVDhtg?si=AqHGGGECrEth-OCn


                                                                               BÀI THƠ: MẸ ỐM

     Bài thơ được viết vào năm 1966, ngôn ngữ chứa đựng đầy những cảm xúc của những em bé dành cho người mẹ của mình. Bài thơ đã được tác giả khắc họa rõ tình cảm thiêng liêng ấy.


Mở đầu bài thơ là một câu kể rất ngây thơ của một em bé.

Mọi hôm mẹ thích vui chơi 

Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu


Bên cạnh cách nghĩ của bé đó là một câu so sánh dành cho mẹ mình, câu này chỉ mang ý nghĩa là một câu nói vui đùa. Vì ở tuổi trẻ con, các bé thích khám phá những cái mới mẻ, cứ nghĩ người lớn giống mình giống suy nghĩ của em. Nhưng thật ra đó là một cái nhìn nhận về sự đau ốm của mẹ.

Ở hai câu tiếp theo, tác giả lại gợi tả những ngày mẹ không ốm mẹ sẽ têm trầu, không để trầu khô. Và mẹ còn kể chuyện Truyện Kiều cho bé nghe. Hôm nay mẹ ốm nên mẹ gấp để Truyện Kiều lại.


Lá trầu khô giữa cơi trầu Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay


Đó là những suy nghĩ của một em bé rất hồn nhiên vô tư. Trong tiềm thức của em bây giờ đó là không được nghe mẹ kể chuyện thôi. Ở khổ thơ tiếp theo đó là em bé suy nghĩ nghĩ về những ngày tháng mẹ cực khổ. Mẹ không khoảng thời gian, dù nắng hay mưa mẹ vẫn làm, mẹ không màng đến thời gian dù cho trời tối. Cậu bé đã ý thức sâu sắc đến thế về những chịu đựng, hy sinh trời bể của người mẹ thật đã khiến cho không chỉ người mẹ, mà ngay cả người đọc chúng ta cũng không giấu nổi cảm động.


Cánh màn khép lỏng cả ngày

Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa

Nắng mưa từ những ngày xưa

Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan


Và tiếp theo ở khổ thơ kế tiếp đó là sự quan tâm của hàng xóm khi mẹ bị ốm. Được tác giả thể hiện một cách khái quát bằng những hình ảnh rất giản dị mộc mạc. Đó cũng như là một lời động viên để giúp mẹ của em mau khỏi bệnh.


Khắp người đau buốt, nóng ran

Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm

Người cho trứng, người cho cam

Và anh bác sĩ đã mang thuốc vào


Điều này chứng tỏ thường ngày mẹ sống rất tốt với hàng xóm, nên giờ mẹ ốm hàng xóm vào thăm cho quà. Hơn thế nữa, em bé lại thấu hiểu được sự vất vả của mẹ mình qua những ngày mẹ ốm.


Cả đời đi gió đi sương

Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi


Hai câu thơ trê là ẩn dụ để tác giả nói lên được sự vất vả, gian nan của mẹ để lo hi sinh vì các con. Dù trời mưa nắng mẹ vẫn phải làm việc vất vả. Qua các hình ảnh trên cho thấy tác giả là một người rất yêu thương mẹ mình. Và muốn làm những gì mẹ muốn để động viên giúp mẹ mau khỏi bệnh.


Mẹ vui, con có quản gì

Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca

Rồi con diễn kịch giữa nhà

Một mình con sắm cả ba vai chèo


Ở các câu thơ tiếp theo đó là sự trách bản thân thân mình. Vì mình mà mẹ khổ đủ điều, Vì sự cực khổ đó mà trên mặt mẹ đã hiện bao nhiêu là nếp nhăn. Tất cả đều vì thương yêu con mình, muốn cho con có cái ăn cái mặc, có giấc ngủ say. Đây là những lời rất cảm động của tác giả dành cho mẹ mình, đó là lời cảm ơn, đó là những tấm lòng của người con dành cho mẹ.


Vì con mẹ khổ đủ điều

Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn

Con mong mẹ khoẻ dần dần

Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say


Ở câu kết tác giả đã ví mẹ mình như đất nước điều này chứng tỏ được sự biết ơn dành cho mẹ mình.


Rồi ra đọc sách, cấy cày

Mẹ là đất nước, tháng ngày của con...


Bài thơ đã được tác giả khái quát hoá một cách rất cụ thể và chân thành. Đó là tình yêu dành cho người mẹ cũng như là những vất vả cực khổ mà mẹ phải gánh chịu. Không chỉ có thể vì tình yêu thương con mình, với mong muốn con có được giấc ngủ, cái ăn cái mặc mà mẹ phải hy sinh tất cả.


Qua bài thơ này, tác giả muốn nói lên tình cảm của mình dành cho người mẹ của mình thông qua đó nói lên được tình yêu dành cho quê hương đất nước.


2.Bên cửa sổ máy bay (1985)


Tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” đã đánh dấu sự trưởng thành của nhà thơ, tác giả đang trên đường tìm tòi để tạo dựng cho thơ mình một cá tính nghệ thuật.  Tập thơ này có thể gồm ba cụm chính. Một cụm các bài thơ tình yêu. Một cụm thơ về đời sống bộ đội trên hải đảo. Một cụm thơ nghĩ về đời, về thơ, về làng quê. Những bài thơ bắt đầu thể hiện những chiều sâu tình cảm, suy tư khác nhau trong tâm hồn của một người lớn 

Đây là tập thơ được Giải thưởng Nhà nước 2001 của nhà thơ Trần Đăng Khoa, được xuất bản

lần đầu

năm 1985, tái bản và bổ sung năm 2006.

Một số bài thơ nổi tiếng trong tập thơ này:

1. Chiều Cát Bà

2. Thơ tình người lính biển

3. Cây bão táp đảo Nam Yết

4. Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài

5. Đoạn văn xuôi chép ở đảo Chìm

6. Hát về hòn đảo chìm

7. Cô tổng đài hải đảo

8. Lính đảo hát tình ca trên đảo

9. Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn

10. Mẹ                            

                            Bài thơ "Lính đảo hát tình ca trên đảo 
                                                                                                              
     Bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo được nhà thơ Trần Đăng Khoa viết năm 1982, khi là anh lính hải quân cùng đồng đội ở ngoài Trường Sa sóng nước. Bài thơ khắc họa hiện thực về cuộc sống khó khăn, gian khổ, thiếu thốn đủ thứ của những người lính trên quần đảo Trường Sa. Đồng thời thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, lãng mạn hào hoa của những người lính trẻ, dù cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nhưng vẫn vui tươi và không ngừng hi vọng, mong chờ vào một tình yêu cháy bỏng, bày tỏ sự nồng nàn và chung thủy thiết tha. Cho thấy tình cảm yêu mến, trân trọng và ngợi ca của tác giả đối với những người lính trẻ

Khổ đầu trong bài thơ được Trần Đăng Khoa miêu tả sự khắc nghiệt về thời tiết nơi quần đảo Trường Sa nhiều nắng gió. Cái sân khấu dựng lên giữa trời biển bao la ấy phải kỳ công và độc đáo lắm mới chịu nổi cái gió như quăng quật, tấp tấp vào mặt con người. Sân khấu kê lên từ đá san hô biển, cánh gà phải dựng bằng tôn, tất cả đều tạm bợ thế thôi, vì không có phông màn nào chịu nổi thông thốc của gió trời biển đảo:

Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn máy cánh gà
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa.


Nhưng sự thú vị nhất lại nằm ở khổ thơ thứ hai. Ở đây có sự đối lập giữa cái khắc nghiệt của thiên nhiên và sự dũng cảm, lạc quan của người lính. “Gió rát mặt”, “sỏi cát bay như lũ chim hoang”, thuỷ triều xuống lên liên tục khiến cho đảo cũng thay hình đổi dạng không ngừng. Quả là một vùng đất đầy gian nan, thử thách đối với người lính. Tuy vậy, người lính vẫn hiên ngang, lãng mạn và hào sảng:

Gió rát mặt, Đảo luôn thay hình dáng
Sỏi cát bay như lũ chim hoang
Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi. Máy nước đã mở màn...

Từ “mây nước mở màn”, hình tượng người lính đảo hiện lên thật độc đáo, tếu táo qua hình dáng bên ngoài lẫn vẻ đẹp tâm hồn, nhờ đó đã giúp cho Trần Đăng Khoa có được một giọng thơ hóm hỉnh, bông đùa nhưng tạo được cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.

Cuộc sống trên đảo Trường Sa khắc nghiệt, gian khổ “đến một cái cây cũng không sống được”, thành ra người lính cũng phải chấp nhận để thích nghi với môi trường. Thiếu thốn đủ thứ, trong đó có nước ngọt, vì vậy phần lớn họ phải cạo trọc đầu cho đỡ rít khi không có nước ngọt gội tóc, thành ra “lính trẻ lính già đều trọc tếu như nhau”. Đọc đến đây, hẳn chúng ta không thể quên hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, cũng tếu táo và có vẻ “bặm trợn” khác thường giữa cuộc sống núi rừng miền Tây Bắc khắc nghiệt: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm”:

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng... rặt lính trọc đầu
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.


Họ gọi đùa nhau là “sư cụ”, là “bà con xa với bụt ốc”, thế hoá thành vui nhộn vì cảnh tượng “sư cụ hát tình ca” mới đưa duyên và “sóng sánh” làm sao! Quả vậy, chính cuộc sống gian nan giữa nước trời thăm thẳm ấy, hình tượng người lính Trường Sa hiện lên thật lãng mạn và hào hoa. Họ hát tình ca trên đảo với biết bao tâm trạng và cảm xúc trào dâng: Khát khao một tình yêu cháy bỏng, bày tỏ sự nồng nàn và chung thuỷ thiết tha.

Cái giọng tình ca ở đây cũng thật kì lạ, cứ “ngang tàng như gió biển” nhưng lời lẽ tình tứ không chê vào đâu được, bồi hồi bỏng cháy “toàn nhớ với thương thôi”. Có lẽ chính những năm tháng sống cùng đồng đội nơi biển cả bạc trùng, nơi đảo nổi, đảo chìm của Tổ quốc giúp Trần Đăng Khoa có được chất liệu hiện thực chân thật và sâu sắc đến thế. Đọc thơ, người đọc không chỉ hiểu thêm về cuộc sống người lính Trường Sa mà còn để trái tim mình cảm thông và rưng rưng xúc động. Chính cái giọng phớt đời, tưng tửng lại là chỗ xót xa và lấy nhiều nước mắt của người đọc:

Cái giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi
Đêm buông xuống nhìn nhau không rõ nữa
Cứ ngỡ như vỏ ốc cất thành lời...
Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng
Hàng cây cũng tươi xinh
Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ
Và tay mình lại nắm lấy tay mình.


Hóm hỉnh nhất là khổ thơ với các câu hỏi tu từ tự vấn về người yêu của người lính đảo. Họ hát tình ca, yêu đắm say và nhớ thương tha thiết chỉ qua tưởng tượng, thành ra họ hình dung về người yêu của mình cũng có năm bảy đường khác biệt. “Các em ở phương nào?”, “Các em cao hay thấp?” Xót xa nhất là bóng dáng nào sẽ đến với các anh như một câu hỏi xoáy sâu vào lặng lẽ, vào thăm thẳm ruột gan mong chờ khao khát mỗi khi đêm về trông ra chỉ bốn bề mây nước âm u:

Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào?
Các em cao hay lùn? Có trời mà biết được
Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh?
Trông bốn phía chỉ âm u mây nước
.

Lãng mạn, hào hoa là thế, nhưng chất lính, sự kiên cường và dấn thân của người lính mới chính là vẻ đẹp cao cả về lòng yêu nước. Hát tình ca để khẳng định tình yêu thuỷ chung, khẳng định chủ quyền đất nước. Nhà thơ không nói hết, nhưng đó là tiếng nói phản kháng chiến tranh, là tiếng nói nhân văn sâu sắc. Cao hơn, hình tượng người lính đứng giữa trời nước bao la bảo vệ chủ quyền thiêng liêng cho Tổ quốc chính là trách nhiệm lớn lao, thiêng liêng không gì sánh được:

Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngục ta đây
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.

Đến cuối bài, giọng điệu và hình ảnh thơ vẫn sống động, hóm hỉnh và tếu táo mang đậm phong cách thơ Trần Đăng Khoa. Hình ảnh “toàn những đá trọc đầu” khi thuỷ triều vừa rút như một kết thúc bất ngờ và ám ảnh. Đó là cả một sự quan sát, một phút xuất thần để có những câu thơ hay:

Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót
Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ô, hoá ra toàn những đá trọc đầu....

Bài thơ đã được phổ thành nhạc: https://youtu.be/cVtxsAgONNc?si=F6AAGXcM-4h-rGP1


Bài thơ:Thơ tình người lính biển

   

Bài thơ Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa được sáng tác năm 1981 khi tác giả chính thức thuộc biên chế của Bộ Tư lệnh Hải quân và có dịp đi nhiều vùng biển, đến các đơn vị hải quân (từ những hạm đội, hải đoàn đến tận quần đảo Trường Sa), vì vậy ông có nhiều điều kiện để trực tiếp sống cùng và thấu hiểu cuộc sống người lính đảo. Nó diễn tả đúng trình tự thời gian từ lúc nhân vật "anh" chia tay với nhân vật "em" ở bến cảng tới lúc "anh" làm nhiệm vụ ở đảo xa, đan xen suy tư vừa cá nhân vừa mang tính thời đại và nó đã thể hiện thành công vẻ đẹp tâm hồn người lính biển.

Ngay từ những vần thơ đầu tiên, hiện thực đã được tái hiện một cách đầy lãng mạn:

"Anh ra khơi

Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng

Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng

Biển một bên và em một bên.."

     Thi sĩ mở đầu văn bản bằng ba từ thật đơn giản: "Anh ra khơi" và đằng sau ba từ đấy lại đong đầy tâm trạng của chiến sĩ hải quân. Người lính chia tay bạn gái để lên tàu làm nghĩa vụ bảo vệ biển trời thân yêu của Tổ quốc. Một mối tình thật đẹp và lưu luyến nhưng cũng rất hiểu, thông cảm cho nhau về nhiệm vụ người bạn trai phải gánh vác. Thế nên, trong thời khắc chia xa, cả hai rảo bước đi dạo trên bến cảng như không biết xung quanh có gì và đây có lẽ là cái hạnh phúc dung dị hiếm hoi mà họ được bên nhau vì anh có thể một đi không trở lại. Ở đó, những cánh buồm trắng được treo ngang trên bầu trời xanh thẳm, cao vời vợi bởi những áng mây bồng bềnh (biện pháp nhân hóa "treo ngang trời") giống như đang báo hiệu đoàn thuyền đưa anh đến biển đảo xa xôi chuẩn bị cập bến và họ sắp phải xa nhau. Dấu chấm lửng đặt sau câu thơ "Biển một bên và em một bên" là một dụng ý nghệ thuật của tác giả, tạo cho người đọc sự sẻ chia, đồng cảm với sự xa cách trong tình yêu tuổi trẻ và tâm sự thiết tha chưa kịp nói hết, chưa kịp dãi bày. Tiếp theo, nhà thơ đã khắc họa tính cách của biển và em:

"Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên.."

     Chỉ một lần dạo trên bến cảng mà sự cồn cào của biển, sự dịu êm của em đã lan tỏa cả lòng anh. Ông dùng biện pháp đối lập "ồn ào" – "dịu êm", nhân hóa "biển ồn ào" để cho thấy biển cả mênh mông với những con sóng cuồn cuộn như thôi thúc tinh thần, như vẫy gọi anh hãy mau lên đường đi chiến đấu và sự dịu hiền, kín đáo ở em. Hai hình ảnh trên ngỡ như tương phản nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, đây lại chính là sự tương thuộc bởi cả hai đã in đậm khắc sâu trong trái tim của anh rồi. Từng tiếng nói êm ái, từng tiếng cười dịu dàng của em đều rất tinh tế khi em chỉ buông câu nói da diết ái tình và nén nỗi đau chia xa đầy bịn rịn của người ở lại vào đáy lòng, rồi lặng lẽ mỉm cười như động viên, khích lệ. Nụ cười ấy chính là sợi dây vô hình níu giữ anh, khiến tâm hồn anh xao xuyến, bâng khuâng, khiến anh so sánh, ví von bản thân "như con tàu lắng sóng từ hai phía" : Biển và em. Được gần em hay gần biển đều là niềm khát khao cháy bỏng của người lính đảo. Thực ra, khi yêu, các anh cũng như bao người bình thường khác, đều muốn bên cạnh người mình yêu. Nhưng khi đất nước chưa yên bình, họ phải kìm nén ước muốn đó lại. Về điều này, thi sĩ Phùng Quán trong bài thơ "Hôn" đã nói hộ các anh:

"Khi người ta yêu nhau

Hôn nhau trong say đắm

Còn anh, anh yêu em

Anh phải đi ra trận"

Ở khoảnh khắc đó, người lính chợt nhận ra:

"Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trôi nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên.."

     Điệp ngữ "ngày mai" khẳng định nơi anh đến thật xa xôi và có thời không cách trở, trải dài vô tận với chùm sao xa lắc, với thăm thẳm nước trôi (đảo ngữ "thăm thẳm"), tuy vậy, anh vẫn thực hiện nghĩa vụ bằng tâm thế lạc quan yêu đời. Trước biển trời bao la, con người thật nhỏ bé và tác giả khẳng định dù một mình nhưng "anh không cô độc" bởi trong trái tim, anh luôn có tình yêu Tổ quốc, tình yêu biển cả, có gia đình, đồng đội và bóng dáng của em. Tiếp đến khổ bốn, thi nhân đã khơi gợi lại năm tháng khó khăn của dân tộc:


"Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên

Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng

Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng

Biển một bên và em một bên.."


     Ông nhân hóa "đất nước gian lao" để thể hiện nước ta trong giai đoạn ấy là một mảnh đất nhỏ bé đầy sự cực nhọc vì gánh nặng của chiến tranh, của những kẻ thù không ngừng gây chiến, muốn biến Việt Nam thành thuộc địa và còn cả của khí hậu, thời tiết đầy khắc nghiệt nữa, từ đó làm ta nhớ tới hai câu thơ trong "Mùa xuân nho nhỏ" : "Đất nước bốn ngàn năm/ Vất vả và gian lao". Hình ảnh ẩn dụ "những vành tang trắng" gợi vành khăn tang hay chính là nỗi đau của những nhân dân có người thân chết vì thiên tai, bão tố khắc nghiệt và gợi nỗi đau của đất nước đã phải đối mặt, trải qua không chỉ là mất mát của thiên tai mà còn là mất mát của chiến tranh. Chính vì thế, anh đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và sẵn sàng đến nơi đầu sóng ngọn gió để hoàn thành nhiệm vụ: "Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng". Câu thơ ngắt nhịp như dồn nén, làm hình tượng chiến sĩ hải quân hiện lên nhỏ bé giữa thiên nhiên rộng lớn, vắng vẻ nhưng vẫn rất hiên ngang, hào hùng, kiên cường dũng cảm với tư thế cầm chắc tay súng để giữ gìn nền độc lập của nước nhà và qua đó gợi liên tưởng đến bốn câu thơ đầu trong bài "Người lính đảo" của tác giả Nguyễn Lan Hương:

"Nơi anh đứng trời xanh và gió lộng

Giữa mênh mông sóng nước đại dương

Lắm gian nguy mà dạ vẫn kiên cường

Chắc tay súng mà bền gan vững trí"

   Khép lại bài thơ, thi sĩ nhấn mạnh tình cảm, lẽ sống của anh đã và sẽ mãi mãi dành cho "biển" và "em" :

"Vòm trời kia có thể sẽ không em

Không biển nữa. Chỉ còn anh với cỏ

Cho dù thế thì anh vẫn nhớ

Biển một bên và em một bên.."

   "Vòm trời" ở đây chính là vòm nhà của anh và đồng đội, anh ngước lên nhìn trời để tìm ra niềm hi vọng và sự thư thái bình yên trong tâm hồn. Trong bài có nhiều giả định, các câu thơ giả định này tạo ra từ những cơn sóng vỗ bờ tha thiết, day dứt không yên. Giả định để khẳng định khi "không em", "không biển", "chỉ còn anh với cỏ" thì anh vẫn sẽ luôn trung thành với tình yêu đất nước và thủy chung với tình yêu lứa đôi dẫu bao bất trắc có thể xảy ra. Đó là tình yêu vĩnh hằng thiêng liêng của người lính biển. Và biển là hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu quê hương đất nước (đại diện cho cái rộng lớn) còn em là hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu đôi lứa (đại diện cho cái nhỏ bé), từ đó cho thấy cái chung và cái riêng cùng vun đắp cho khát vọng niềm tin của người lính. Hơn nữa, câu "Biển một bên và em một bên" được điệp lại năm lần cuối mỗi khổ đã khẳng định trong tâm hồn anh, tình em luôn hòa quyện một cách hài hòa với tình biển trời Tổ quốc.


Bài thơ đã được phổ thành nhạc: https://youtu.be/zg6XUsVVa5A?si=n5yGgI0iNt2zSf1w
III. Tổng kết
Kết lại, Trần Đăng Khoa không chỉ là “thần đồng thơ ca” của một thời mà còn là một "hiện tượng" sáng tạo bền bỉ, giàu chiều sâu qua nhiều giai đoạn của đời sống và lịch sử. Từ những vần thơ hồn nhiên, trong trẻo của tuổi thơ đến những suy tư chín chắn, giàu trải nghiệm của người lính và người nghệ sĩ trưởng thành, ông đã góp phần khắc họa một bức tranh chân thực mà giàu cảm xúc về con người Việt Nam. Thơ ông dung dị nhưng không hề đơn giản, giàu nhạc điệu mà vẫn sắc sảo về ý nghĩa, khiến người đọc dễ dàng đồng cảm và suy ngẫm. Đặc biệt, hình ảnh quê hương, con người lao động và người lính trong thơ Trần Đăng Khoa luôn hiện lên vừa gần gũi, vừa mang tầm vóc lớn lao của thời đại. Chính sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc cá nhân và tinh thần dân tộc đã tạo nên giá trị bền vững cho thơ ông. Có thể nói, Trần Đăng Khoa là một trong những tiếng thơ tiêu biểu góp phần làm giàu đẹp thêm nền văn học Việt Nam hiện đại. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn là những bài học sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước và con người.

Nguồn đọc thêm:






Nhận xét